Thứ Hai, ngày 10 tháng 5 năm 2021

Cổng thông tin điện tử

Công nghiệp hỗ trợ

Nâng cao liên kết doanh nghiệp dệt may Việt
Thứ Ba_10/11/2020 Chuyên mục: Dệt may

Để tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do, việc kết nối, liên kết để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu chuỗi và các tập đoàn đa quốc gia có chiến lược nội địa hóa, tiếp cận các nhà cung ứng sản phẩm công nghiệp hỗ trợ trong nước là yêu cầu đặt ra.

Phát triển công nghiệp hỗ trợ, từng bước tự chủ nguồn nguyên vật liệu, linh phụ kiện trong nước là một trong những vấn đề cốt lõi để phát triển bền vững công nghiệp Việt Nam. Đặc biệt với ngành dệt may có vai trò quan trọng, sử dụng nguồn lao động rất lớn. Xuất khẩu của ngành chiếm tỉ trọng lớn trong tổng kim ngạch quốc gia khi năm 2019 là 33 tỷ USD, tương đương 12,4% tổng kim ngạch.

Không thể phủ nhận ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam đã có những tiến bộ nhất định, đóng vai trò quan trọng trong tham gia vào chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị toàn cầu. Tuy nhiên, ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam hiện nay còn nhiều hạn chế, quy mô và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp còn yếu, chưa đủ lực để tham gia sâu vào chuỗi cung ứng sản xuất toàn cầu. Liên kết đầu cuối trong chuỗi sản xuất vẫn chưa thực sự chặt chẽ. Liên kết đầu – cuối trong chuỗi sản xuất vẫn chưa thực sự chặt chẽ.

Nhìn từ thực tế doanh nghiệp dệt may hiện nay, yêu cầu liên kết, nâng cao năng lực công nghiệp hỗ trợ là cần thiết, song vẫn có nhiều thách thức đặt ra.

Ông Thân Đức Việt - Tổng giám đốc Tổng công ty Cổ phần May 10, cho hay mỗi năm May 10 sản xuất 18 triệu áo sơ mi nên cần 30 triệu mét vải sơ mi; 1,5 triệu bộ veston nên cần 5 triệu mét vải. Do đó, việc kết nối để có nguyên phụ liệu của các nhà sản xuất trong, ngoài nước là cần thiết. Tuy nhiên, trên thực tế, có những sản phẩm cùng chủng loại nguyên phụ liệu có thể làm ở Việt Nam nhưng giá cao hơn giá Trung Quốc. Tốc độ phát triển mẫu mã và đáp ứng thời gian chúng ta kém hơn họ, nên 60 - 70% chúng tôi nhập khẩu không phải xuất xứ từ Việt Nam thì không thể hưởng lợi được các hiệp định EVFTA, CPTPP, vì yêu cầu từ vải, từ sợi trở đi.

Ông Nguyễn Văn Hà - Giám đốc Công ty TNHH Dệt Phú Thọ - chuyên sản xuất kéo sợi là một trong những công đoạn đầu tiên của chuỗi cung ứng dệt may. Mặc dù đã có tới 80% xuất khẩu, nhưng việc thâm nhập thị trường nội địa của Công ty lại gặp nhiều khó khăn do khả năng cung ứng của doanh nghiệp sợi Việt Nam rất nhỏ, chỉ khoảng 20% với năng lực cung ứng của doanh nghiệp Việt Nam là rất kém, khâu cuối cùng hoàn tất là không có.

Việc thu hút đầu tư hiệu quả và thúc đẩy kết nối kinh doanh, liên kết giữa các doanh nghiệp Việt Nam với các doanh nghiệp đa quốc gia, các công ty cung ứng nước, doanh nghiệp đầu chuỗi trong nước và nước ngoài. Đồng thời, nâng cao giá trị gia tăng nội địa, sức cạnh tranh của sản phẩm và vị trí của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu là một trong những giải pháp quan trọng nhất.

Đặc biệt trong năm 2020 chứng kiến những tác động mạnh mẽ của đại dịch COVID-19 đến nền kinh tế và chuỗi cung ứng toàn cầu. Sự đứt gẫy các chuỗi cung ứng đặt ra yêu cầu tái cấu trúc đối với các tập đoàn đa quốc gia theo hướng tăng tỉ lệ nội địa hóa, phân tán rủi ro. Những thay đổi này đặt ra cơ hội, thách thức, đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải tự chủ, năng động hơn trong việc tìm kiếm cơ hội tham gia vào các chuỗi cung ứng mới hình thành.

Theo Tổng cục Thống kê, chỉ số sản xuất ngành dệt trong tháng 10/2020 tăng 4,5% so với tháng 9/2020 nhưng so với tháng 10/2019 vẫn giảm 3,5%. Tính chung 10 tháng đầu năm, chỉ số sản xuất ngành này giảm 0,5% so với cùng kỳ năm 2019. Trong đó, sản lượng các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ (CNHT) ngành dệt may 10 tháng qua phần lớn đều giảm so với cùng kỳ do ảnh hưởng của dịch Covid-19 đến nhu cầu tiêu thụ.

Bảng: Sản lượng một số sản phẩm CNHT ngành dệt may và sản phẩm may mặc trong tháng 10 và 10 tháng đầu năm 2020

Tên sản phẩmĐVTT10/2020T10/2020 so T9/2020 (%)T10/2020 so T10/2019 (%)10 tháng 202010T/2020 so 10T/2019  (%)
Bao và túi dùng để đóng, gói hàng từ nguyên liệu dệt khác1000 cái46.1762,47-7,56415.994-13,68
Sợi xe từ các loại sợi tự nhiên: bông, đay, lanh, xơ dừa, cói ...Tấn80.6984,79-2,15744.3211,18
Sợi tơ (filament) tổng hợp Tấn123.3094,941,011.271.8132,91
Sợi từ bông (staple) tổng hợp có tỷ trọng của loại bông này dưới 85% Tấn15.5594,53-12,70156.302-6,34
Vải dệt thoi khác từ sợi bông1000 m29.3600,54-4,3185.192-4,83
Vải dệt thoi từ sợi bông có tỷ trọng bông từ 85% trở lên1000 m247.4946,1328,38381.3456,56
Vải dệt thoi từ sợi tơ (filament) nhân tạo1000 m245.2833,74-35,58566.925-15,94
Vải dệt thoi từ sợi tơ (filament) tổng hợp 1000 m224.9930,00-13,65230.166-27,16

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Tác giả: Ban biên tập tổng hợp (TT)
VĂN BẢN PHÁP LUẬT

ĐỐI TÁC