Thứ Năm, ngày 25 tháng 2 năm 2021

Cổng thông tin điện tử

Công nghiệp hỗ trợ

Khắc phục hạn chế và tạo điều kiện cho lĩnh vực cơ khí phát triển
Thứ Sáu_27/11/2020 Chuyên mục: Cơ khí chế tạo

Hiện sản phẩm cơ khí đáp ứng 45 - 50% nhu cầu trong nước và 30% xuất khẩu là chưa đạt theo yêu cầu. Hàng năm, Việt Nam phải nhập khẩu hàng tỷ USD máy móc, thiết bị để phát triển các ngành công nghiệp nội địa còn ngành cơ khí chế tạo chỉ đáp ứng được một phần.

Việt Nam là thị trường cơ khí rất lớn, khoảng 40 tỷ USD/năm nhưng thị phần của doanh nghiệp Việt Nam được tham gia còn rất thấp. Chi tiêu công là ưu thế để cơ khí phát triển nhưng vẫn chủ yếu là hàng nhập ngoại, kể cả đối với những sản phẩm chúng ta không những làm được mà còn làm tốt hơn nhiều sản phẩm nhập khẩu.

Thời gian qua, lĩnh vực cơ khí đã đạt được nhiều kết quả tích cực, nhưng vẫn chưa đóng vai trò là ngành công nghiệp nền tảng, xuất phát từ một số nguyên nhân, như: Hệ thống pháp luật về cơ khí chế tạo chưa thực sự hoàn thiện, phù hợp, có một số nội dung chưa tạo sự bình đẳng giữa doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp FDI (như quy định của Luật Đấu thầu, Luật Đầu tư công…) làm cho doanh nghiệp trong nước khó cạnh tranh được với doanh nghiệp nước ngoài trong đấu thầu các dự án. Nhà nước chưa có cơ chế, chính sách đủ mạnh để khuyến khích các doanh nghiệp trong nước đầu tư, nghiên cứu, đổi mới công nghệ trong thiết kế, sản xuất, gia công các sản phẩm cơ khí.

Các doanh nghiệp tư nhân, hầu hết quy mô nhỏ bé, không đủ vốn để đầu tư vào lĩnh vực cơ khí chế tạo; năng lực về quản lý, công nghệ… còn hạn chế để thực hiện dự án lớn, trong khi đó các doanh nghiệp còn hoạt động phân tán, khép kín trong nội bộ, thiếu sự phối kết hợp; các doanh nghiệp Nhà nước chậm đổi mới, thiếu chủ động chuyển đổi cơ chế quản lý đồng bộ, còn nặng tư tưởng quản lý bao cấp, chưa thực sự quan tâm đến việc đổi mới cơ chế quản lý theo hướng thị trường để đầu tư sản xuất, nghiên cứu KH&CN, chuyển giao công nghệ, tìm kiếm sản phẩm mới đáp ứng thị trường trong nước và xuất khẩu.

Hiện sản phẩm cơ khí đáp ứng 45 - 50% nhu cầu trong nước và 30% xuất khẩu là chưa đạt theo yêu cầu. Hàng năm, Việt Nam phải nhập khẩu hàng tỷ USD máy móc, thiết bị để phát triển các ngành công nghiệp nội địa còn ngành cơ khí chế tạo chỉ đáp ứng được một phần.

Nhằm khắc phục hạn chế và tạo điều kiện cho lĩnh vực cơ khí phát triển, các chuyên gia cho rằng, Nhà nước cần xây dựng chiến lược về phát triển cơ khí chế tạo trên cơ sở khai thác thế mạnh về nguồn nhân lực, thị trường… gắn với lĩnh vực như sản xuất máy công cụ phục vụ phát triển nông nghiệp; đẩy mạnh hoạt động thiết kế, chế tạo máy để hạn chế nhận gia công cho doanh nghiệp nước ngoài; củng cố, phát triển ngành công nghiệp vật liệu, các nhà máy luyện kim phục vụ cho sản xuất cơ khí, chế tạo.

Xây dựng cơ chế phối hợp giữa Nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và nhà tiêu dùng, trong đó lấy nhà tiêu dùng, thị trường làm trung tâm. Tái thành lập ít nhất là một cơ quan quản lý Nhà nước đủ mạnh về cơ khí chế tạo để nâng cao năng lực quản lý và chỉ đạo của Nhà nước trong lĩnh vực này.

Có chiến lược đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm thay thế đội ngũ cán bộ kỹ thuật được đào tạo bài bản ở nước ngoài trước đây, nay đã đến tuổi nghỉ hưu, có tay nghề, có kỹ thuật cao; sử dụng, cập nhật phần mềm, công nghệ, máy móc hiện đại để thiết kế, chế tạo và sản xuất, kinh doanh. Cùng với đó, các doanh nghiệp cơ khí cần đổi mới tư duy, từng bước làm chủ khoa học công nghệ, chủ động về nguồn vốn đầu tư để có được sản phẩm đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước, tiếp cận tiêu chuẩn của thị trường khu vực và quốc tế.

Để hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn Việt Nam cho lĩnh vực vật liệu và cơ khí xây dựng cần hướng tới mục tiêu xây dựng đồng bộ, hoàn chỉnh hệ thống tiêu chuẩn của Việt Nam với lĩnh vực vật liệu và cơ khí xây dựng; đáp ứng được yêu cầu quản lý chất lượng sản phẩm của Nhà nước, phát triển sản phẩm vật liệu xây dựng của doanh nghiệp; bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; hội nhập với các nước trong khu vực và thế giới.

Theo số liệu tổng hợp từ các Cục Thống kê, các chủng loại máy móc thiết bị sản xuất đạt sản lượng cao trong 10 tháng đầu năm 2020 gồm có: Động cơ điện một chiều khác và máy phát điện một chiều; Động cơ điện một chiều có công suất ≤ 37.5 W; Máy và thiết bị cơ khí khác có chức năng riêng biệt chưa được phân vào đâu;… Trong đó các địa phương có sản lượng sản xuất đạt cao gồm có: Đồng Nai, TP. Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương…

Bảng: Một số sản phẩm CNHT của ngành cơ khí chế tạo sản xuất tại một số địa phương trong tháng 10 và 10 tháng đầu năm 2020

Chủng loại sản xuấtTỉnh/TPĐVTTháng 10/2020
So với
T9/2020
(%)
So với
T10/2019
(%)
10T/2020
So với
10T/2019 (%)
Động cơ điện một chiều có công suất ≤ 37.5 WTổngChiếc38.976.80915,26-9,67347.721.298-9,01
TP. Đà NẵngChiếc24.297.19318,30-6,11220.068.015-10,67
TP. Hồ Chí MinhChiếc14.462.69410,47-15,49125.756.301-5,88
Đồng NaiChiếc216.92215,9638,401.896.982-14,23
Động cơ điện một chiều khác và máy phát điện một chiềuTổngChiếc33.949.289-4,79-14,51362.660.314-4,97
Đồng NaiChiếc33.949.289-4,79-14,51362.660.314-4,97
Máy biến đổi điện quayTổngBộ1.780-40,732,3021.5477,90
TP. Hà NộiBộ1.608-43,609,9119.44911,08
TP. Hải PhòngBộ17213,16-37,912.098-14,75
Máy biến thế điện khác có công suất > 16 kVA nhưng ≤ 500 kVATổngChiếc45334,4947,283.861-12,14
TP. Hà NộiChiếc248-2,6832,932.252-9,66
TP. Hồ Chí MinhChiếc155121,4391,36968-17,41
Bắc NinhChiếc50316,6725,00641-12,19
Máy biến thế điện sử dụng điện môi lỏng công suất sử dụng không quá 650 KVATổngChiếc2.2360,178,0520.926-0,02
Đồng NaiChiếc1.9341,241,0118.702-2,23
TP. Hà NộiChiếc298-6,5697,922.19423,89
Quảng NinhChiếc433,330,00310,00
Máy và thiết bị cơ khí khác có chức năng riêng biệt chưa được phân vào đâuTổngCái115.95114,97-15,011.096.658-16,78
TP. Hồ Chí MinhCái70.29425,13-23,61607.431-27,68
TP. Hà NộiCái14.82910,251,29173.082-8,28
Bình DươngCái16.5342,784,56152.5807,51
Long AnCái10.9944,4211,20101.1467,23
Bắc NinhCái1.0208,8115,6135.337135,76
Đồng NaiCái2.000-42,20-7,5821.969-24,64
Khánh HoàCái0*-100,003.265-57,13
Bình ĐịnhCái22240,0050,001.377108,64
Bắc GiangCái557,8419,57448-21,68
Thừa Thiên HuếCái20,00-33,3322-8,33
Tổ máy phát điện khácTổngBộ130-26,55-42,981.701-21,18
TP. Hải PhòngBộ90-34,78-52,631.403-25,29
Bình DươngBộ402,565,262986,43

Nguồn: Tổng hợp số liệu từ các Cục Thống kê

Tác giả: Ban biên tập tổng hợp (TT)
VĂN BẢN PHÁP LUẬT

ĐỐI TÁC