Thứ Năm, ngày 15 tháng 4 năm 2021

Cổng thông tin điện tử

Công nghiệp hỗ trợ

Chủ động đón đầu cơ hội phát triển CNHT ngành da giày
Thứ Tư_1/7/2020 Chuyên mục: Da giày

Xu hướng dịch chuyển các chuỗi cung ứng toàn cầu do đại dịch Covid-19 gây ra cùng với các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới đã mở ra nhiều cơ hội lớn để ngành da giày, túi xách Việt Nam phát triển lên một tầm cao mới. Tuy nhiên, nó cũng đặt ra những thách thức không hề nhỏ buộc các doanh nghiệp trong ngành phải nỗ lực thích ứng mới có thể vượt qua được.

Những cơ hội lớn

Khi xảy ra đại dịch Covid-19, nhiều thương hiệu lớn của ngành da giày, túi xách thế giới nhận thấy đã đến lúc cần phải tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, giảm sự phụ thuộc vào Trung Quốc để hạn chế tối đa các thiệt hại do dịch bệnh và các khủng hoảng khác tương tự mang lại. Do vậy, Việt Nam – 1 trong 10 nước xuất khẩu da giày, túi xách lớn nhất thế giới có cơ hội lớn để tiếp nhận các chuỗi cung ứng này cũng như phát triển ngành công nghiệp phụ trợ.

Theo Hiệp hội Da giày – Túi xách Việt Nam (Lefaso),Việt Nam đang chiếm lợi thế là điểm đến an toàn của thế giới. Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang có xu hướng cần phải đa dạng hóa, thì đây là cơ hội tốt cho doanh nghiệp Việt Nam.

Các nhãn hàng lớn sẽ tính toán giảm vị trí thống lĩnh thị phần thế giới của Trung Quốc từ mức 60-70% xuống còn 45-50%; nâng thị phần của các nước châu Á gồm Việt Nam, Ấn Độ, Indonesia, Philippines, Myanmar, Bangladesh và Campuchia lên cân bằng với Trung Quốc. Các nước ở châu Phi và châu Mỹ sẽ chiếm thị phần còn lại, khoảng trên 5%. Qua nghiên cứu một số nhãn hiệu lớn của ngành da giày, túi xách thế giới, mặc dù thị trường chỉ còn khoảng 40 – 50% so với trước đây, nhưng họ vẫn phân bổ khoảng 70% đơn hàng cho doanh nghiệp Việt Nam.

Cơ hội lớn thứ hai là từ các FTA thế hệ mới mang lại, trong đó điểm sáng có thể thấy rõ trước mắt là Hiệp định EVFTA. Liên minh châu Âu (EU), thị trường nhập khẩu lớn thứ hai thế giới, hàng năm nhập khẩu khoảng 2.338 tỷ USD, nhưng lượng nhập khẩu từ Việt Nam mới chỉ chiếm khoảng 2% trong số đó. Do đó, với những cam kết xóa bỏ thuế nhập khẩu lên tới gần 100% biểu thuế trong EVFTA, cơ hội gia tăng xuất khẩu của Việt Nam vào EU là rất lớn, nhất là đối với những mặt hàng như da giày, túi xách. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp Việt Nam cũng sẽ được lợi từ nguồn hàng hóa, nguyên liệu nhập khẩu với chất lượng tốt và ổn định với mức giá hợp lý hơn từ EU.

Như vậy, khi vượt qua được dịch bệnh Covid-19, với Hiệp định EVFTA được thực thi cùng với các FTA thế hệ mới khác như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP - có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 14/1/2019) và Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP - có thể ký kết vào tháng 10/2020), các doanh nghiệp da giày, túi xách Việt Nam có trong tay lợi thế rất lớn từ việc giảm/xóa bỏ hàng rào thuế quan vào thị trường EU để khai thác thị trường 18 nghìn tỷ USD này cũng như khai thác các thị trường lớn khác.

Thách thức cũng không nhỏ

Bên cạnh những cơ hội kể trên, ngành da giày, túi xách Việt Nam vẫn phải đối mặt với những thách thức không hề nhỏ. Đó là làm sao để tồn tại, vượt qua được đại dịch Covid-19, để từ đó chuẩn bị thế và lực nhanh chóng hồi phục và phát triển sau dịch. 

Công ty cổ phần Tập đoàn Gia Định cho biết, từ đầu năm 2020 đến nay, doanh nghiệp đã bị giảm sút đơn hàng khoảng 50% so với cùng kỳ năm ngoái và đây là một thách thức rất lớn đối với doanh nghiệp.

Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thách thức này lớn hơn rất nhiều vì dịch xảy ra ở các thị trường tiêu thụ thì rất nhiều các nhãn hàng yêu cầu phải dừng xuất hàng và giữ hàng lại trong kho. Trong suốt thời gian đó thì doanh nghiệp không đủ năng lực tài chính để chịu đựng được hàng tồn kho. Dòng vốn sẽ bị tắc, người ta không có điều kiện nhận được khoản thanh toán tiền về, rồi sau đó khi đơn hàng phục hồi thì không đủ tiền để mua nguyên phụ liệu và trả tiền lương.

Theo thống kê của Lefaso, 6 tháng đầu năm 2020, xuất khẩu của ngành đạt 7,4 tỷ USD, chỉ tăng trong quý I và từ tháng 4, sản lượng xuất khẩu của ngành bắt đầu giảm. Trong đó, tháng 6 chỉ bằng khoảng 50% cùng kỳ năm ngoái, khi toàn bộ cửa hàng ở châu Âu và Mỹ đồng loạt đóng cửa, doanh số bán rơi tự do.

Một thách thức khác là mặc dù xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng mở ra cơ hội lớn, nhưng nó cũng đặt ra thách thức lớn khi Việt Nam vẫn còn phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên phụ liệu chiến lược từ Trung Quốc; nguồn nhân lực có tay nghề, trình độ cao có khả năng tiếp nhận những công nghệ mới còn thiếu và yếu; chi phí logistic cao...

Đối với Hiệp định EVFTA, mặc dù các doanh nghiệp da giày, túi xách Việt Nam đã có thời gian khá dài, khoảng 6 năm để thực hiện GSP nhưng nếu chúng ta chỉ dừng ở đó, cảm thấy an tâm với việc đáp ứng mọi điều kiện của EVFTA thì sẽ không có sự phát triển. Bài toán đặt ra là phải lấy cơ hội của EVFTA để làm ra sản phẩm có giá trị cao hơn. Cụ thể, trước đây, chúng ta làm một đôi giày giá 10 USD, với mức thuế GSP 5% thì chúng ta phải chịu thuế 50 cent. Nhưng với EVFTA cũng đôi giày đó thuế bằng 0, và đôi giày 20 thậm chí 50 USD thuế cũng bằng 0. Do đó, mục tiêu của chúng ta không phải là làm đôi giày 10 USD nữa mà làm sao làm được đôi giày 20, 30 USD hoặc cao hơn nữa. Vì nếu chúng ta không biết tận dụng cơ hội này thì chúng ta cũng chỉ tầm tầm và cũng chỉ hưởng được phần giá trị gia tăng cực kỳ thấp trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Và để làm được việc đó, thách thức lớn nhất là làm sao phát triển được ngành công nghiệp phụ trợ, đặc biệt là sản xuất các nguyên phụ liệu chiến lược; và để doanh nghiệp có thể sử dụng được nguồn nguyên liệu trong nước thì nhất thiết chúng ta phải thiết kế được sản phẩm. Nếu việc này thành công nó sẽ biến ngành da giày, túi xách Việt Nam trở nên khá độc lập so với Trung Quốc hiện nay. Vì không có nhiều ngành của Việt Nam có tiềm năng như vậy.

Chủ động đón đầu 

Mặc dù được các chuyên gia dự báo là ngành da giày, túi xách Việt Nam có thể nhanh chóng hồi phục và phát triển từ năm 2021, nhưng từ nay đến thời điểm đó, các doanh nghiệp trong ngành phải nỗ lực kiên trì mới có thể vượt qua được khó khăn, thách thức do đại dịch Covid-19 gây ra. Đồng thời, các doanh nghiệp trong ngành cũng phải chủ động chuẩn bị các nguồn lực cùng với sự hỗ trợ của Nhà nước mới có thể đón đầu được thời cơ, định vị được chỗ đứng trong chuỗi cung ứng thời trang toàn cầu.

Để nắm bắt được cơ hội chuyển dịch chuỗi cung ứng, thu hút đầu tư, tăng trưởng đơn hàng, giảm phụ thuộc vào nguồn cung nguyên phụ liệu từ Trung Quốc, giới chuyên gia và các doanh nghiệp trong ngành da giày, túi xách đều cho rằng nhất thiết các doanh nghiệp phải có kế hoạch phục hồi và xác lập chiến lược kinh doanh phù hợp ngay từ bây giờ; cần làm chủ khâu phát triển sản phẩm, kiểm soát được chuỗi cung nguyên liệu; nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp qua ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ và Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư; nâng cao trình độ đội ngũ lao động và cán bộ quản lý; chủ động chuẩn bị các nguồn lực tài chính cho giai đoạn mới.

Bài toán lớn nhất của các doanh nghiệp Việt Nam là không có được trung tâm thì ít nhất cũng phải có một phòng nghiên cứu phát triển để tạo nên cơ sở dữ liệu gốc ban đầu làm nền tảng, dần dần từng bước xây dựng cơ sở big data và dần dần làm sao chúng ta kiểm soát được toàn bộ dữ liệu thông tin giá thành và các yếu tố khác trong bộ chỉ số đó, tối thiểu phải bằng 85 – 90% các doanh nghiệp cùng ngành.

Các doanh nghiệp Việt cần học hỏi để không chỉ là cơ sở lắp ráp mà còn thiết kế, phải mua nguyên vật liệu trong nước. Muốn tăng giá trị gia tăng thì doanh nghiệp Việt cần phải học cách làm những đơn hàng nhỏ, những lô hàng có số lượng nhỏ hơn nhưng có giá trị cao hơn.

Một lĩnh vực mà Việt Nam thực sự có thể tạo ra sự khác biệt đó là tạo ra thị trường cũng như các cơ sở, các trung tâm cung cấp nguyên phụ liệu. Việt Nam cần tiếp cận công nghệ 4.0, lồng ghép các công nghệ của thế hệ tiếp theo trong quá trình xây dựng các hạ tầng, khu công nghiệp hay các thị trường. Vì nó sẽ giúp cho Việt Nam thích ứng, đi tắt và đón đầu các quốc gia phát triển hơn về ngành này như là Trung Quốc.

Trong khi đó, hiệp hội đã phối hợp với Đại sứ quán Ý – nước là xứ sở của thời trang, xứ sở của thiết kế - thành lập trung tâm hợp tác thiết kế và tổ chức nhiều khóa đào tạo để nâng cao năng lực thiết kế cho doanh nghiệp Việt Nam. Thời gian tới, hiệp hội sẽ tiếp tục kết nối với Ý để có thêm các chương trình đào tạo thiết kế nâng cao, cũng như kết nối với công ty Wallmart để mở các lớp hoặc các buổi hội thảo để chia sẻ về kinh nghiệm kinh doanh.

Đối với thách thức phát triển ngành công nghiệp phụ trợ, Lefaso cho rằng từng doanh nghiệp sẽ không thể làm được, nên về phía hiệp hội đã đặt ra những bài toán, đặc biệt là làm việc với các thương hiệu lớn để trên cơ sở đó họ thấy rằng Việt Nam sẽ làm được những phân khúc có giá sản phẩm cao và họ sẽ dần dần chuyển hướng thay vì chỉ định các nhà cung ứng nguyên phụ liệu ở các nước khác, đặc biệt là ở Trung Quốc thì họ sẽ chuyển dần để cho các doanh nghiệp việt nam có thể sản xuất được các nguyên phụ liệu đúng theo yêu cầu của họ.

Lefaso cho biết, tỷ lệ nội địa hóa da cao cấp của ngành túi xách Việt Nam đã trên 20% trong khi trước đây 5 năm là bằng 0. Những phụ liệu như hardware, phụ kiện đính trên những sản phẩm túi xách cao cấp thì trước đây 5 năm chúng ta chỉ bằng 0 hoặc vài %, nhưng hiện nay chúng ta đã nâng lên gần 50%. Đây là tiền để phát triển cho ngành da giày Việt Nam. Tuy nhiên, để đón đầu được hướng dịch chuyển của chuỗi cung ứng thời trang, hiệp hội và các doanh nghiệp trong ngành nói riêng cũng như các hiệp hội và doanh nghiệp trong ngành thời trang nói chung rất cần sự hỗ trợ từ phía Chính phủ.

Hiệp hội kiến nghị Chính phủ cần có các giải pháp hiệu quả hơn nữa nhằm hạn chế đến mức tối đa các doanh nghiệp xuất khẩu phải đóng cửa; dùng vai trò, uy tín và các chính sách để bảo lãnh, khuyến khích các thương hiệu lớn di chuyển sang Việt Nam, kết hợp chuyển dịch khâu phát triển sản phẩm và chỉ định vật tư cho các nhà cung ứng Việt Nam.

Bên cạnh đó, có chính sách khuyến khích phát triển ngành công nghiệp phụ trợ như điều chỉnh Nghị định 111/2015 theo hướng mở hơn, cũng như có chính sách hỗ trợ đặc biệt đối với các doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất nguyên phụ liệu chiến lược.

Đồng thời, nắm bắt những yêu cầu, nguyện vọng của các thương hiệu lớn trong việc định vị Việt Nam vào chuỗi cung ứng cũng như những yêu cầu của các thương hiệu này đối với ngành CNHT; nghiên cứu, xây dựng mô hình điểm Trung tâm công nghiệp thời trang dựa trên cơ sở các mô hình trung tâm công nghiệp thời trang đang hoạt động hiệu quả của Trung Quốc.

Tác giả: Ban biên tập tổng hợp (TT)
VĂN BẢN PHÁP LUẬT

ĐỐI TÁC