Thứ Ba, ngày 20 tháng 10 năm 2020

Cổng thông tin điện tử

Công nghiệp hỗ trợ

Triển vọng thu hút đầu tư vào lĩnh vực CNHT dệt may
Thứ Hai_28/9/2020 Chuyên mục: Dệt may

Đầu tư dệt may của các nước sẽ dịch chuyển vào Việt Nam từ nay đến năm 2025 và được dự báo là sẽ rất nhanh, nhất là sau khi đại dịch Covid-19 được kiểm soát.

Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), trong 9 tháng năm 2020, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 21,2 tỷ USD, giảm 18,9% so với cùng kỳ năm 2019. Sự thưa vắng các dự án FDI mới vào Việt Nam nói chung và lĩnh vực dệt may, xơ sợi, dệt nhuộm nói riêng là điều không quá bất ngờ trong bối cảnh khó khăn chung do tác động của dịch bệnh Covid-19.

Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas) cho biết, từ đầu năm đến nay, chưa xuất hiện khoản đầu tư lớn nào từ nước ngoài vào ngành dệt may Việt Nam. Xu hướng này khá trái ngược so với giai đoạn 5 năm liền kề trước đó (2015-2019), khi vốn ngoại tấp nập đổ bộ vào các dự án trong ngành dệt may. Cụ thể, kỷ lục vốn FDI vào dệt may đã được ghi nhận trong năm 2015 với 189 dự án, tổng vốn đạt 4,13 tỷ USD. Năm 2016 số lượng dự án đạt kỷ lục là 234 dự án, nhưng số vốn giảm còn 2,57 tỷ USD. Sang tới năm 2017-2019, vốn FDI vào dệt may giảm xuống song vẫn đạt mỗi năm từ 1,5 tỷ đến hơn 2 tỷ USD.

Sở dĩ vốn FDI vào dệt may tăng mạnh từ năm 2015 là bởi các DN nước ngoài đã đón đầu cơ hội mang lại từ Hiệp định CPTPP và EVFTA. Tuy nhiên từ đầu năm 2020 tới nay, dự án FDI mới trong lĩnh vực dệt may, xơ sợi, dệt nhuộm không còn tấp nập như thời gian trước. Vitas đánh giá, vốn ngoại vào dệt may chỉ chững lại tạm thời trong bối cảnh kinh tế toàn cầu chịu tác động tiêu cực của dịch Covid-19. Sự dịch chuyển dòng vốn đầu tư vào Việt Nam trong ngành này là có và sẽ tiếp diễn, nhưng chưa phải trong thời điểm hiện tại. Trong bối cảnh dịch bệnh vẫn đang kéo nhu cầu thị trường xuống thấp, sẽ tiềm ẩn không ít rủi ro đối với NĐT, do đó việc thận trọng trong quyết định đầu tư là điều dễ hiểu. Rất khó để có dòng vốn FDI mới vào dệt may tại thời điểm này, bởi nhu cầu thị trường đang xuống rất thấp. Các thị trường tiêu thụ lớn như Mỹ, EU vẫn đang chật vật chống dịch, sức mua chưa tăng trở lại. 

Về các dự án trong lĩnh vực CNHT dệt may từ đầu năm 2020 đến nay, phải kể đến Công ty TNHH Texhong Dệt Kim (Hồng Kông) được Ban Quản lý Khu kinh tế Quảng Ninh cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư thực hiện Dự án Nhà máy Dệt kim tại Khu công nghiệp Texhong Hải Hà vào cuối tháng 5/2020. Dự án trên có tổng vốn đăng ký 214 triệu USD, sản xuất vải dệt kim, vải đan móc và vải không dệt khác, quy mô hơn 2.700 lao động. Theo kế hoạch, cuối năm 2021, giai đoạn I của Dự án sẽ đi vào hoạt động, giai đoạn II sẽ được hoàn thiện và đi vào vận hành sau đó 20 tháng. Trước đó, Texhong đã đầu tư 2 dự án dệt là Texhong Hải Yên và Texhong Ngân Hà tại Quảng Ninh, với tổng quy mô 800.000 cọc sợi/năm, tổng năng lực sản xuất khoảng 400 tấn/năm với 1.200 cỗ máy dệt.

Một dự án khác của Công ty TNHH Brotex (Việt Nam) 100% vốn Trung Quốc được khởi công hồi tháng 2/2020 là Dự án Nhà máy sản xuất sợi Brotex Khu C - giai đoạn IV tại Khu công nghiệp Phước Đông (huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh). Trước khi khởi công dự án mới, cũng tại Khu công nghiệp Phước Đông, Brotex đã đầu tư dự án 400 triệu USD, gồm 3 giai đoạn. Giai đoạn I có vốn đầu tư 100 triệu USD, đã xây dựng xong 2 nhà xưởng sản xuất, lắp đặt 100.000 cọc sợi, có 14 kho nguyên liệu và 2 nhà xưởng nhuộm, sản lượng ước tính 15.000 tấn sợi/năm. Giai đoạn II có vốn đầu tư 150 triệu USD, đang xây dựng 4 nhà xưởng sản xuất và lắp đặt 200.000 cọc sợi, với sản lượng ước tính đạt 30.000 tấn sợi/năm. Giai đoạn III có vốn đầu tư 150 triệu USD, gồm 4 nhà xưởng sản xuất và lắp đặt 200.000 cọc sợi.

Đại diện doanh nghiệp dệt may 100% vốn nước ngoài với 2 nhà máy may tại Hải Dương cho rằng, quá trình đầu tư một dự án công nghiệp nặng thường mất 3-5 năm, nhưng một dự án đầu tư nhà máy may hàng xuất khẩu chỉ mất vài ba tháng để hoàn thiện, tính cả thời gian tuyển dụng nhân công cũng chỉ 8-9 tháng. Các dự án nguyên phụ liệu phức tạp hơn, nhưng thời gian đầu tư cũng chỉ hơn 1 năm. Do đó, trong bối cảnh dịch bệnh vẫn đang kéo nhu cầu thị trường xuống thấp, tiềm ẩn không ít rủi ro cho nhà đầu tư, thì việc thận trọng trong quyết định đầu tư của các doanh nghiệp là điều dễ hiểu.

Tuy nhiên ở một góc nhìn khác, dịch Covid-19 vừa là lực hãm vốn ngoại vào dệt may thời điểm hiện tại, song trong tương lai đây cũng là lực đẩy để việc dịch chuyển diễn ra nhanh hơn. Hiện nay Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Trung Quốc được xem là những cường quốc dệt may hàng đầu thế giới. Song các nước và vùng lãnh thổ này đang giảm dần sản xuất trong lĩnh vực dệt may. Do đó, việc chuyển dịch chuỗi sản xuất dệt may từ các quốc gia này là điều tất yếu. Việt Nam là thị trường có nhiều hiệp định thương mại tự do với các nước, sẽ tạo ra nhiều cơ hội cho sự dịch chuyển đầu tư này.

Trên thực tế là sự dịch chuyển dòng vốn trong lĩnh vực dệt may cũng không chỉ dừng lại ở các nền kinh tế thuộc khu vực châu Á, mà còn đến từ các nước châu Âu như Ý, Đức, Nga, điều mà những người làm trong ngành này trước đây không hề nghĩ tới. Điển hình là các DN đến từ Ý đã rót vốn đầu tư tại cụm sản xuất quy mô lớn từ sợi - dệt - nhuộm - may tại huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định và dự án nhà máy dệt ở Khu công nghiệp Phố Nối, tỉnh Hưng Yên.

Vitas dự báo, dòng dịch chuyển đầu tư từ nay đến 2025 sẽ rất nhanh, nhất là khi EVFTA vừa có hiệu lực, đặc biệt sau khi đại dịch được kiểm soát.

Các chuyên gia và DN trong nước kỳ vọng, sự dịch chuyển sản xuất của NĐT nước ngoài sẽ hỗ trợ ngành dệt may trong nước gia tăng tỷ trọng phần cung ứng bị thiếu hụt. Khi đó, các DN trong nước gia tăng được tỷ lệ nội địa hóa, từ đó được hưởng các ưu đãi đầu tư theo cam kết từ các hiệp định thương mại tự do mang lại. Hiện tại Việt Nam chỉ đáp ứng nội địa từ 47-48%, và với sự gia tăng dịch chuyển đầu tư của các nước thì ngành có thể nâng lên đạt 67-68% trong thời gian tới. Điều này cũng giúp doanh nghiệp Việt Nam gia tăng giá trị sản xuất thoát khỏi làm gia công theo đơn đặt hàng. Trên thực tế, hiện tỷ trọng doanh nghiệp trong ngành dệt may trong nước làm thuần gia công đã giảm nhiều, chuyển dần sang làm FOB hay OEM...

Tác giả: Ban biên tập tổng hợp (TT)
VĂN BẢN PHÁP LUẬT

ĐỐI TÁC