Thứ Ba, ngày 26 tháng 5 năm 2020

Cổng thông tin điện tử

Công nghiệp hỗ trợ

Phát triển ngành nhựa đồng bộ từ sản xuất nguyên liệu đến chế biến sản phẩm cuối cùng
Chủ Nhật_15/12/2019 Chuyên mục: Các ngành khác

Theo Quy hoạch phát triển ngành Nhựa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2025 đã được Bộ Công thương phê duyệt, thì tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp ngành Nhựa giai đoạn 2011 – 2020 sẽ đạt 17,5%, tỷ trọng ngành Nhựa so với toàn ngành công nghiệp đến năm 2020 đạt 5,5%. Theo đó, mục tiêu phát triển của ngành nhựa Việt Nam đến năm 2020 sẽ trở thành một ngành kinh tế mạnh, với tốc độ tăng trưởng cao và bền vững. Từng bước xây dựng và phát triển ngành Nhựa đồng bộ từ sản xuất nguyên liệu đến chế biến sản phẩm cuối cùng, tận dụng và xử lý phế liệu phát sinh, tăng dần tỷ trọng nguyên liệu trong nước để trở thành ngành công nghiệp tự chủ, có khả năng hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới.

Tình hình nhập khẩu nguyên liệu nhựa từ năm 2016 đến 11 tháng năm 2019

NămLượng (Tấn)Trị giá (USD)So cùng kỳ năm 2018
Về lượng (%)Về trị giá (%)
11 tháng năm 20195.774.5608.219.630.91213,31-1,2
20185.581.5489.066.912.69613,7523,94
20174.906.9027.315.301.8908,1316,83
20164.538.1456.261.617.04515,665,12

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu thống kê TCHQ

Để đạt được mục tiêu đề ra, ngành Nhựa cần phải làm rất nhiều việc, bởi thực tế ngành này đang phải đối diện với nhiều khó khăn. Cụ thể như: Mẫu mã chủng loại của ngành Nhựa do Việt Nam sản xuất còn đơn điệu, chưa đáp ứng được nhu cầu của các nhà nhập khẩu cũng như người tiêu dùng trong nước.

Cùng với đó, chất lượng một số sản phẩm nhựa của Việt Nam cũng chưa rõ ràng và đảm bảo, nên người tiêu dùng tin và sử dụng các sản phẩm nhựa do Việt Nam sản xuất. Đặc biệt, ngành Nhựa hiện nay đối mặt với một số khó khăn đó là chưa chủ động được nguồn nguyên liệu và phải nhập khẩu của nước ngoài, nên giá cả thành phẩm còn bấp bênh, không ổn định, nên mặc dù có sự phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây nhưng ngành Nhựa Việt Nam chủ yếu được biết đến như một ngành gia công chất dẻo, giá trị gia tăng thấp.

Theo thống kê, để đáp ứng thị trường nội địa và xuất khẩu, mỗi năm ngành Nhựa Việt Nam cần nhập khẩu hàng triệu tấn các loại nguyên liệu như PE, PP, PS… Tuy nhiên, khả năng trong nước hiện nay mới chỉ đáp ứng được khoảng từ 15-20% nhu cầu nguyên phụ liệu. Mỗi năm ngành Nhựa Việt Nam cần trung bình 2 - 2,5 triệu tấn nguyên vật liệu, nhưng lại đang phải nhập khẩu tới 75 - 80%. Việc phụ thuộc nguyên liệu nhựa nhập khẩu đã và đang làm tăng chi phí đầu vào theo giá nguyên liệu nhập (giá nguyên liệu chiếm từ 60% đến 70% giá thành sản xuất) và tăng rủi ro tỷ giá, giảm sự chủ động, sức cạnh tranh và khó tận dụng được ưu đãi thuế quan, bởi những quy định về xuất xứ hàng hóa. Việc chưa chủ động được nguồn nguyên liệu sản xuất và hình thành công nghiệp hỗ trợ đã gây nên rất nhiều trở ngại cho sự tăng trưởng bền vững của ngành nhựa Việt Nam.

Bên cạnh việc phải đối mặt với tình trạng nhập siêu nguyên liệu, các DN nhựa cũng phải đối mặt với rủi ro lớn trong nguyên liệu đầu vào khi mức thuế nhập khẩu nguyên liệu nhựa PP tăng lên 3%. Nhựa PP đang được nhập khẩu tới 80%, do đó việc triển khai mức thuế quan mới ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành sản phẩm và tác động gián tiếp đến năng lực cạnh tranh của các DN Việt Nam trong mối quan hệ với các DN nước ngoài. Biên lợi nhuận của các DN nhựa Việt Nam được dự báo sẽ giảm 1% khi thuế nhập khẩu nhựa PP tăng 3%. Ngành Nhựa có tỷ suất lợi nhuận tương đối thấp, chỉ 5% trong khi tỷ lệ thâm hụt lên đến 7%.

Ở nước ta, cơ cấu sản xuất nhựa chính bao gồm: Nhựa bao bì (39%), nhựa gia dụng (32%), nhựa xây dựng (14%), nhựa kỹ thuật (9%) và loại nhựa khác (6%). Chưa kể, việc thanh toán chủ yếu bằng đồng USD, EUR khiến việc tỷ giá biến động cũng tác động không nhỏ tới chi phí đầu vào của các công ty nhựa trong nước. Điều này dẫn đến việc không những giá thành sản phẩm kém cạnh tranh, ngành nhựa còn đối mặt với thực trạng nhập siêu nguyên liệu, gây trở ngại rất lớn cho sự tăng trưởng bền vững của ngành nhựa Việt Nam.

Nhìn chung, ngành Nhựa Việt Nam mặc dù số lượng DN đông đảo nhưng 80% DN nhựa trong nước là DN có quy mô vừa và nhỏ, với trình độ công nghệ khá hạn chế, khoảng 85% thiết bị máy móc trong ngành phải nhập ngoại. Hầu hết các DN này đều sản xuất với quy mô gia đình, năng lực cạnh tranh thấp, chính vì thế, hơn 90% DN nhựa của Việt Nam là xưởng gia công cho nước ngoài, chưa làm chủ được thương hiệu cũng như sản phẩm.

Để thực hiện hiệu quả các mục tiêu đặt ra và giảm bớt phụ thuộc nguyên liệu nước ngoài, đa dạng hóa mẫu mã, nâng cao khả năng cạnh tranh về chất lượng và giảm giá thành sản phẩm, trong thời gian tới, DN ngành nhựa Việt Nam cần chủ động tái cơ cấu đầu tư hoặc tăng cường năng lực nghiên cứu, tập trung đầu tư máy móc, theo chuẩn công nghệ mới; giảm bớt phụ thuộc nguyên liệu nước ngoài, đa dạng hóa mẫu mã, nâng cao khả năng cạnh tranh về chất lượng và giảm giá thành sản phẩm…

Nhà nước cũng cần nghiên cứu, có cơ chế, chính sách nhằm để huy động các nguồn lực xã hội tham gia vào khâu sản xuất nguyên liệu cho ngành nhựa, để có thể hỗ trợ các ngành khác cùng phát triển; phát triển ngành công nghiệp phụ trợ phục vụ cho ngành nhựa và định hướng đến năm 2020 nhập khẩu nguyên liệu của ngành nhựa…​

VĂN BẢN PHÁP LUẬT

ĐỐI TÁC