Thứ Sáu, ngày 3 tháng 4 năm 2020

Cổng thông tin điện tử

Công nghiệp hỗ trợ

Duy trì tăng trưởng cho CNHT dệt may
Thứ Hai_16/12/2019 Chuyên mục: Dệt may

Mặc dù chịu tác động rất lớn từ suy giảm kinh tế thế giới do biến động chính trị và xung đột thương mại giữa các nền kinh tế lớn, đặc biệt là xung đột thương mại Mỹ - Trung, nhưng ngành dệt may Việt Nam vẫn giữ được mức tăng trưởng khá.

Theo số liệu sơ bộ của Tổng cục Thống kê, trong 11 tháng năm 2019, sản xuất nhiều sản phẩm công nghiệp hỗ trợ (CNHT) ngành dệt may Việt Nam vẫn duy trì sự tăng trưởng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vải dệt thoi từ sợi tơ (filament) nhân tạo tăng mạnh nhất 35,78% đạt sản lượng 745,73 triệu m2. Tiếp đến là sợi xe từ các loại sợi tự nhiên: bông, đay, lanh, xơ dừa, cói... tăng 14,94% đạt sản lượng 818,41 nghìn tấn. Vải dệt thoi từ sợi bông có tỷ trọng bông từ 85% trở lên cũng tăng khá 14,24% đạt 395,92 triệu m2. Ở chiều ngược lại, sản lượng vải dệt thoi từ sợi tơ (filament) tổng hợp 11 tháng giảm 22,97% chỉ đạt 343,26 triệu m2...

Sản lượng một số sản phẩm CNHT ngành dệt may và sản phẩm may mặc trong tháng 11 và 11 tháng năm 2019

Tên sản phẩmĐvtT11/2019So T10/2019 (%)So T11/2018 (%)11T/2019So 11T/2018 (%)
Bao và túi dùng để đóng, gói hàng từ nguyên liệu dệt khác1000 cái52.3504,792,11534.2515,14
Sợi tơ (filament) tổng hợp Tấn121.770-0,2512,491.357.6528,78
Sợi từ bông (staple) tổng hợp có tỷ trọng của loại bông này dưới 85% Tấn18.4923,7611,66185.36911,98
Sợi xe từ các loại sợi tự nhiên: bông, đay, lanh, xơ dừa, cói ...Tấn82.7560,3518,35818.41214,94
Vải dệt thoi khác từ sợi bông1000 m29.8650,8523,5899.3802,02
Vải dệt thoi từ sợi bông có tỷ trọng bông từ 85% trở lên1000 m238.0562,8730,87395.91914,24
Vải dệt thoi từ sợi tơ (filament) nhân tạo1000 m271.3201,4737,53745.72835,78
Vải dệt thoi từ sợi tơ (filament) tổng hợp 1000 m227.273-5,77-10,25343.261-22,97

                                                                                                                                Nguồn: Tổng cục Thống kê

Tuy nhiên, ngành dệt may cũng đang phải đối diện với nhiều khó khăn, thách thức. Hiện nay, cạnh tranh về đơn hàng giữa doanh nghiệp (DN) nội địa với DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) diễn ra ngày càng gay gắt. Nhiều DN đang rơi vào tình trạng khan hiếm đơn hàng, thậm chí một số đã phải đóng cửa, đối diện với nguy cơ phá sản.

Nguyên nhân của tình trạng này là do hầu hết các đơn hàng bị chia nhỏ, khách hàng hầu như không còn đặt hàng dài hạn, đặc biệt tình trạng ép giá thấp khiến lợi nhuận của DN bị sụt giảm. Các đơn hàng có xu hướng chuyển sang những nước có ưu đãi về thuế suất như Banglades, Campuchia, thay vì vào Việt Nam như trước đây. 

Thông thường quý IV của năm trước, nhiều DN xuất khẩu dệt may đã có đơn hàng cho cả năm sau đó nhưng năm nay, đơn hàng dè dặt hơn, giảm so với năm 2018. Lượng đơn hàng của nhiều DN mới chỉ bằng 80% so với cùng kỳ. Không chỉ vậy, nhiều DN không nhận được đơn hàng dài hạn, mà thay vào đó là các đơn hàng ngắn hạn theo tháng, dài nhất là theo quý.

Bên cạnh đó, lợi thế về nhân công giá rẻ không còn, khi mà nhiều quốc gia có giá nhân công chỉ bằng một nửa của ngành dệt may Việt Nam. Để thu hút đơn hàng, các quốc gia đã áp dụng nhiều chính sách hỗ trợ DN dệt may của họ như giảm nhiều loại thuế, khiến nguy cơ mất đơn hàng của các DN Việt Nam ngày càng cao. Ngoài ra, ngành dệt may đang chịu sức ép về nguồn cung khi phải trả chi phí cao hơn để mua vải từ Trung Quốc, trong khi áp lực giảm giá từ các đơn hàng xuất khẩu để cạnh tranh không nhỏ. Ngoài ra, việc đầu tư, áp dụng khoa học công nghệ cho ngành dệt may còn hạn chế, dẫn đến giảm khả năng cạnh tranh. 

Điều này cho thấy, các DN dệt may Việt Nam đã và đang đối mặt với nhiều khó khăn như cạnh tranh từ các cường quốc dệt may như Trung Quốc, Ấn Độ, Bangladesh... đang rất khốc liệt. Nhiều nước đang tập trung hỗ trợ ngành dệt may, trong đó có cả những quốc gia mới nổi ở khu vực châu Phi khiến số lượng nhà sản xuất tăng mạnh, đơn hàng bị san sẻ.

Thị trường sợi cũng gặp nhiều khó khăn, sự cạnh tranh về đơn hàng từ các DN sợi có vốn đầu tư nước ngoài cũng như cạnh tranh từ các quốc gia khác như Ấn Độ, Thái Lan, Indonesia, Pakistan ngày càng gay gắt.

Trong khi đó, các mặt hàng dệt may hiện nay cũng chưa tận dụng được những cơ hội từ Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Tính đến thời điểm hiện tại, sau gần 1 năm CPTPP có hiệu lực nhưng việc cấp chứng nhận xuất xứ (C/O) của Việt Nam vẫn đang phụ thuộc vào các cơ quan hữu quan, trong khi những nước thành viên CPTPP đã cho phép các DN tự chứng nhận.

Bên cạnh đó, yêu cầu xuất xứ từ sợi trở đi, nghĩa là từ công đoạn kéo sợi, dệt nhuộm vải đều phải thực hiện trong khu vực CPTPP là thách thức không nhỏ, vì các DN dệt may đang phải nhập khẩu hơn 60% nguyên phụ liệu ngoài khu vực CPTPP. Ngành dệt may sẽ khó tận dụng được hết các cơ hội, thậm chí còn gặp khó với CPTPP, bởi nếu không đảm bảo được quy tắc xuất xứ, hàng hóa Việt Nam xuất đi sẽ không được hưởng ưu đãi thuế.  

Nhiều DN dệt may xem 2 hiệp định CPTPP và EVFTA là cơ hội để đẩy mạnh xuất khẩu, mở rộng thị trường và hưởng ưu đãi thuế. Tuy nhiên, muốn DN tận dụng được cơ hội này thì phía Nhà nước phải giải quyết những điểm nghẽn nêu trên, để khơi thông, phát triển cho ngành dệt may. Do vậy, các DN dệt may kiến nghị, Nhà nước cần hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, vốn nhằm giúp DN ứng dụng các công nghệ tiên tiến hơn.

Bên cạnh đó, tháo gỡ những khó khăn cho DN về thủ tục hải quan, xuất nhập khẩu, hoàn thuế… Có chính sách tạo thuận lợi cho DN giảm chi phí sản xuất, chính sách cấp phép đầu tư vào khâu dệt, nhuộm. Bởi trong những năm gần đây, nhằm thu hút đơn hàng, những quốc gia cạnh tranh xuất khẩu dệt may với Việt Nam đều áp dụng các chính sách hỗ trợ DN dệt may nội địa, bao gồm giảm thuế thu nhập DN, thuế nhập khẩu nguyên phụ liệu.

Theo Hiệp hội Dệt may Việt Nam, trong ngắn và trung hạn, Việt Nam vẫn có khả năng tăng cường thị phần tại các nước nhờ các FTA, ví dụ sang EU (nhờ Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) và khối các nước tham gia Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), đặc biệt là Canada và Úc nhờ hiệp định này. Làn sóng đầu tư FDI đồng thời cũng mở ra các cơ hội cho dệt may hợp tác, các cơ hội mua bán, sáp nhập công ty, các cơ hội chuyển giao công nghệ để trở nên lớn mạnh hơn trên thị trường nội địa và quốc tế.

Tuy nhiên, thị trường dệt may thế giới nhiều biến động với nhiều kịch bản khó lường về chiến tranh thương mại, chủ nghĩa bảo hộ, về các rào cản kỹ thuật mới. Nhu cầu tiêu thụ của các thị trường lớn suy giảm do tình hình địa chính trị, tình hình kinh tế toàn cầu giảm phát, kéo theo nhu cầu nhập khẩu giảm sẽ gây khó khăn về đơn hàng và áp lực đơn giá cho DN.

Các DN dệt may trong nước dễ trở thành đơn vị cấp 2, đơn vị gia công nếu làn sóng FDI đầu tư ồ ạt vào Việt Nam để tránh tình trạng bị áp thuế khi xuất đi từ Trung Quốc. Tình hình cạnh tranh sẽ ngày càng khốc liệt hơn và áp lực về giá, về đơn hàng, áp lực năng suất sẽ trở thành các vấn đề được quan tâm nhất.

Có một thực tế là hiện nay đang có xu hướng dịch chuyển may mặc từ Trung Quốc về Việt Nam, trong đó có một số nhà đầu tư Trung Quốc tìm mua lại cổ phần của các DN gặp khó khăn. Điều này nhằm tạo nguồn gốc xuất xứ từ Việt Nam để xuất khẩu. DN Việt sẽ đối mặt với cạnh tranh đơn hàng ngày càng gay gắt hơn.

Trong bối cảnh cạnh tranh hết sức quyết liệt, việc đạt được mức tăng trưởng khoảng 9% là một nỗ lực rất lớn của toàn ngành dệt may. Tuy nhiên, với tình hình nhiều biến động, năm 2019 các DN cần thận trọng trong các hoạt động đầu tư, mở rộng sản xuất và nỗ lực vượt qua thời kỳ nhiều thách thức này.

VĂN BẢN PHÁP LUẬT

ĐỐI TÁC