Thứ Ba, ngày 20 tháng 10 năm 2020

Cổng thông tin điện tử

Công nghiệp hỗ trợ

Đổi mới mô hình phát triển CNHT để tận dụng cơ hội từ làn sóng FDI mới
Thứ Tư_23/9/2020 Chuyên mục: Điện tử

Hiện ngày càng nhiều tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới chọn Việt Nam là điểm đến đầu tư. Tuy nhiên nếu không có các chính sách thiết thực, đủ mạnh và kịp thời để thúc đẩy sự phát triển của CNHT, Việt Nam sẽ có nguy cơ bỏ lỡ các dòng vốn đầu tư lớn trong xu thế chuyển dịch của chuỗi giá trị toàn cầu cũng như đổi mới mô hình phát triển công nghiệp.

​​

Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) cho biết, Tập đoàn Pegatron của Đài Loan (Trung Quốc) - 1 trong 5 nhà sản xuất linh kiện, sản phẩm điện tử hàng đầu thế giới, đã đề xuất đầu tư khoảng 1 tỷ USD để xây dựng nhà máy sản xuất tại Khu công nghiệp Nam Đình Vũ, TP Hải Phòng.

Cụ thể, từ tháng 3/2020, dự án đầu tiên của Tập đoàn Pegatron tại Việt Nam với vốn đầu tư 19 triệu USD đã nhận được Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư của Ban quản lý Khu kinh tế Hải Phòng. Ngoài dự án này, đối tác sản xuất linh kiện, sản phẩm của Apple, Microsoft, Sony còn có ý định đầu tư tiếp dự án nhà máy thứ hai và thứ ba tại Việt Nam, với số vốn lần lượt 481 triệu USD và 500 triệu USD. Nhà máy thứ hai đang được xúc tiến các thủ tục xin giấy phép đầu tư để chuyên sản xuất thiết bị điện tử, máy tính, bảng mạch... cung cấp cho các đối tác lớn; dự án thứ ba dự kiến triển khai sau 6-7 năm tới.

Ngoài Pegatron, Bộ KH&ĐT cho biết đang vận động một số nhà đầu tư khác như Tập đoàn Universal Global Technology Co.Ltd (Đài Loan) đầu tư tại Việt Nam. Universal Global là thành viên của Tập đoàn công nghệ ASE Holding đầu tư dự án sản xuất, lắp ráp bảng mạch điện tử cho đồng hồ, điện thoại, tai nghe để cung cấp cho Lenovo, Sony... Nếu quyết định đầu tư, Universal Global sẽ chi 200 triệu USD cho giai đoạn 1, sau đó nâng lên 400 triệu USD.

Rất nhiều thông tin cho biết, Microsoft, Google sẽ sản xuất các sản phẩm của mình tại Việt Nam. Thậm chí, cũng đã có những giấc mơ iPhone "made in Vietnam", nhất là khi cả Foxconn, Luxshare đã liên tục tăng vốn đầu tư, con số cũng đã lên tới cả tỷ USD. Ngay cả Intel gần đây cũng đã nhắc đến kế hoạch mở rộng đầu tư tại Việt Nam.​

Điều này cho thấy đã và đang có nhiều doanh nghiệp (DN) FDI chuyên sản xuất linh phụ kiện chọn Việt Nam là một đích ngắm. Tình thế này đặt Việt Nam trước vấn đề là làm thế nào để phát triển công nghiệp hỗ trợ (CNHT) trong nước, kịp đón cơ hội từ làn sóng thu hút FDI đang diễn ra mạnh mẽ. Bởi lẽ dù có thu hút được các tập đoàn lớn nhưng vì chênh lệch trình độ thì sẽ khó tạo liên kết giữa khối nội với khối ngoại. 

​Theo thống kê của Hiệp hội CNHT Việt Nam (VASI), đa phần DN hoạt động trong ngành có quy mô rất nhỏ, máy móc ít, có một vài dây chuyền, trình độ quản lý dừng ở mức thấp nên chỉ đáp ứng được các đơn hàng nhỏ và linh kiện rời, chỉ một số ít công ty có thể sản xuất cả cụm linh kiện. Trong khi khách hàng luôn cần sản lượng lớn, sản phẩm phải là cụm linh kiện hoàn chỉnh. Với nhiều hạng mục hoàn thiện, DN Việt Nam phải gửi sang Thái Lan, Trung Quốc gia công rồi gửi về, khiến chi phí tăng cao.

Theo đánh giá của Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương), CNHT kém phát triển đang là một trong những điểm yếu lớn nhất của Việt Nam trong việc thu hút dòng vốn FDI, đặc biệt là các dự án FDI yêu cầu cao về trình độ sản xuất và công nghệ. Việc tập trung phát triển CNHT để thu hút và giữ dòng vốn FDI là bài học kinh nghiệm thành công điển hình của các quốc gia trong khu vực, tiêu biểu là Thái Lan. Thực tế, trong thời gian trước đây cũng như hiện tại, nhiều nhà đầu tư trong các ngành sản xuất đã lựa chọn Thái Lan hoặc Indonesia vì hệ thống cung ứng nội địa của Việt Nam kém cạnh tranh hơn nhiều so với các quốc gia này. Do đó, nếu không có các chính sách thiết thực, đủ mạnh và kịp thời để thúc đẩy sự phát triển của CNHT, Việt Nam sẽ có nguy cơ bỏ lỡ các dòng vốn đầu tư lớn trong xu thế chuyển dịch của chuỗi giá trị toàn cầu cũng như đổi mới mô hình phát triển công nghiệp.

Theo Bộ Công Thương, các DN FDI hoạt động trong cùng lĩnh vực CNHT thường vay vốn từ công ty mẹ hoặc từ ngân hàng nước ngoài với lãi suất chỉ từ 1-3%, trong khi các DN trong nước phải vay với lãi suất từ 8-10%. Sự chênh lệch lớn về chi phí tài chính này đã làm triệt tiêu sự cạnh tranh của các DN trong nước. Mặc dù vay với lãi suất cao hơn các DN FDI, nhưng các DN Việt Nam cũng không dễ dàng tiếp cận với các khoản vay dài hạn để mở rộng sản xuất, đầu tư tiếp nhận công nghệ mới. Có thể đánh giá đây là một trong những nguyên nhân, rào cản chính khiến các DN CNHT khó khăn trong việc đầu tư sản xuất, dẫn đến sản phẩm của DN trong nước khó tham gia được vào chuỗi sản xuất toàn cầu.

Liên quan đến CNHT và khả năng chuyển sản xuất, mua hàng từ các công ty đa quốc gia có thể di dời khỏi Trung Quốc, VASI kiến nghị Chính phủ cần có tiếp cận để đàm phán cụ thể với các công ty đa quốc gia tại Việt Nam để hỗ trợ DN Việt tham gia mạng lưới sản xuất của họ. Song song với đó, cần có kế hoạch chi tiết hình thành các tổ hợp hoặc liên danh CNHT gồm các DN nhỏ, các cụm liên kết sản xuất hoặc có biện pháp cụ thể ưu đãi cho các công ty CNHT cỡ vừa hiện nay đầu tư mở rộng sản xuất đáp ứng yêu cầu mới.

Ông Đỗ Nhất Hoàng - Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài kiến nghị, Nhà nước cần tiếp tục triển khai các chính sách hỗ trợ DN nhỏ và vừa, tăng cường liên kết giữa các DN FDI với DN trong nước. Đồng thời, đẩy nhanh xây dựng trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia nhằm phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp.

Còn theo ông Nguyễn Minh Cường - Chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), việc thu hút các tập đoàn FDI lớn là cần thiết, song Việt Nam cũng không nên bỏ quên các nhà đầu tư nhỏ khác nếu họ có thể đáp ứng các yêu cầu của Việt Nam về thúc đẩy liên kết với các DN trong nước. ​

Tác giả: Ban biên tập tổng hợp (TT)
VĂN BẢN PHÁP LUẬT

ĐỐI TÁC