Thứ Sáu, ngày 24 tháng 1 năm 2020

Trang thông tin điện tử

Công nghiệp hỗ trợ

Chiến lược nội địa hóa linh kiện ô tô
Thứ Ba_17/12/2019 Chuyên mục: Ô tô

Phát triển công nghiệp hỗ trợ, gia tăng tỷ lệ nội địa hóa được xem là nền tảng và yêu cầu cấp thiết để phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam, đồng thời tạo động lực kéo theo các ngành công nghiệp khác. Trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng và cạnh tranh khốc liệt với xe nhập khẩu từ khu vực ASEAN và nhiều nước trên thế giới, việc đầu tư phát triển công nghiệp hỗ trợ để gia tăng tỷ lệ nội địa hóa, từng bước tham gia chuỗi giá trị toàn cầu là hướng đi được nhiều doanh nghiệp lựa chọn để nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững.

Theo đó, tỷ lệ nội địa hóa một số dòng xe sản xuất, lắp ráp trong nước khá cao do khả năng cung ứng các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ nội địa được cải thiện. Các chủng loại xe tải, xe khách từ 10 chỗ ngồi trở lên, xe chuyên dụng sản xuất trong nước đạt tỷ lệ nội địa hóa cao, trung bình 50-55%.

Tình hình sản xuất ô tô trong nước trong tháng 11 và 11 tháng năm 2019 (ĐVT: Chiếc)

Tên sản phẩmTháng 11/2019So T10/2019 (%)So T11/2018 (%)11T/2019So 11T/2018 (%)
Xe có động cơ chở dưới 10 người, có động cơ đốt trong kiểu piston đốt cháy bằng tia lửa điện với dung tích xi lanh > 1500 cc và ≤ 3000 cc12.4900,3215,80114.41720,73
Xe có động cơ đốt trong kiểu piston đốt chạy bằng sức nén chở được từ 10 người trở lớn với tổng trọng tải > 6 tấn và # 18 tấn5.76213,141,3957.655-1,98
Xe có động cơ chở được từ 10 người trở lớn chưa được phân vào đâu1.0997,85-25,6414.8970,07
Xe có động cơ dùng để vận tải hàng hóa có động cơ đốt trong kiểu piston đốt chạy bằng sức nén, có tổng trọng tải tối đa # 5 tấn3.273-6,1616,1629.9888,77
Xe có động cơ dùng để vận tải hàng hóa có động cơ đốt trong kiểu piston đốt chạy bằng sức nén, có tổng trọng tải tối đa > 5 tấn và # 20 tấn1.2913,61-12,5315.02311,55

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu thống kê của TCHQ

Nhưng đáng chú ý hiện chỉ có một vài nhà cung cấp trong nước có thể tham gia vào chuỗi cung ứng của các nhà sản xuất, lắp ráp ô tô tại Việt Nam. So với Thái Lan, số lượng nhà cung cấp của Việt Nam trong ngành công nghiệp ô tô vẫn còn rất ít. Thái Lan hiện có gần 700 nhà cung cấp cấp 1, nhưng Việt Nam chỉ có chưa đến 100 nhà cung cấp loại này. Thái Lan có khoảng 1.700 nhà cung cấp cấp 2,3, trong khi Việt Nam chỉ có chưa đến 150.

Tỷ lệ nội địa hóa với xe cá nhân đến 9 chỗ ngồi ở Việt Nam còn thấp, đến nay mới chỉ đạt bình quân khoảng 7-10%. Nguyên nhân là do dung lượng thị trường trong nước còn nhỏ do ngành công nghiệp ô tô của Việt Nam chưa đủ các điều kiện về thị trường cũng như các yếu tố khác để phát triển như các quốc gia trong khu vực. Bên cạnh đó, ngành này chưa đảm bảo quy mô công suất sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ. Trong khi đó, thị trường xuất khẩu phải chịu sự cạnh tranh gay gắt đặc biệt từ các đối thủ cạnh tranh như Trung Quốc, Ấn Độ và các nước ASEAN.

Hiện khó khăn lớn nhất của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam là quy mô thị trường nhỏ bé, sản lượng thấp. Chẳng hạn, sản lượng xe Vios sản xuất tại Việt Nam chỉ bằng 1/8 của Thái Lan. Điều này làm cho chi phí sản xuất tại Việt Nam cao hơn các nước trong khu vực, đặc biệt là chi phí khấu hao. Do sản lượng còn quá nhỏ, nên các nhà sản xuất phần lớn phải nhập khẩu các linh kiện để sản xuất ô tô. Điều này cũng dẫn đến chi phí rất cao cho việc đóng gói, vận chuyển, thuế nhập khẩu. Mặt khác, công nghiệp hỗ trợ ngành ô tô cũng không phát triển được do sản lượng thấp.

Bên cạnh đó, hệ thống chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ cho ngành công nghiệp ô tô còn có những mâu thuẫn, thiếu nhất quán, thiếu tính ổn định; xây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ô tô vẫn còn chưa mang lại hiệu quả...

Trên thực tế, so với Thái Lan và Indonesia, sản lượng ô tô của Việt Nam còn thua xa. Thái Lan đạt khoảng 2 triệu xe/năm, Indonesia 1,3 triệu xe/năm, trong khi Việt Nam chỉ hơn 300.000 xe/năm.

Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô VAMA cho hay, mục tiêu của Việt Nam đến năm 2020, dung lượng thị trường ô tô có thể lên mức 500.000 xe. Đây là một thông tin rất tốt cho các nhà sản xuất tại Việt Nam, bởi khi dung lượng lớn hơn, sẽ kéo theo công nghiệp phụ trợ phát triển.

VĂN BẢN PHÁP LUẬT

ĐỐI TÁC