Thứ Bảy, ngày 8 tháng 8 năm 2020

Cổng thông tin điện tử

Công nghiệp hỗ trợ

Phát triển CNHT dệt may để khai thác tối đa lợi thế từ EVFTA
Chuyên mục: Tin hoạt động Sự kiện:

Để khai thác tốt những lợi thế mà Hiệp định EVFTA mang lại, các doanh nghiệp trong ngành dệt may sẽ phải gấp rút cải tổ rất nhiều từ việc đáp ứng quy tắc xuất xứ cho tới nâng cao công nghệ sản xuất.

Để khai thác tốt những lợi thế mà Hiệp định EVFTA mang lại, các doanh nghiệp trong ngành dệt may sẽ phải gấp rút cải tổ rất nhiều từ việc đáp ứng quy tắc xuất xứ cho tới nâng cao công nghệ sản xuất.

  Trong những tháng đầu năm 2020, dịch bệnh Covid-19 tác động đến ngành dệt may Việt Nam trên nhiều phương diện. Nếu ngay từ tháng đầu tiên của năm, doanh nghiệp (DN) thiếu hụt nguyên liệu cho sản xuất thì từ giữa tháng 3 đến nay, DN lại rơi vào tình trạng thiếu đơn hàng do đối tác tại thị trường Mỹ và châu Âu hoãn, hủy đơn hàng. Thậm chí nhiều đơn hàng đã sản xuất xong, chuyển tới cảng biển lại buộc phải quay về kho do không giao được hàng, DN không gánh được chi phí lưu kho bãi. Số lượng đơn hàng của một số DN dệt may giảm đến 80-90% khi các đối tác từ Mỹ, EU tạm ngừng nhận đơn hàng.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, sản lượng các sản phẩm CNHT ngành dệt may trong tháng 5/2020 đều tăng so với tháng trước nhưng vẫn giảm so với cùng kỳ năm 2019. Tính chung 5 tháng đầu năm 2020, sản lượng vải dệt thoi từ sợi tơ (filament) tổng hợp có mức giảm mạnh nhất, đạt gần 119,97 triệu m2 (giảm 24,98%). Tiếp đến là vải dệt thoi khác từ sợi bông đạt 40,62 triệu m2, giảm 5,4%. Vải dệt thoi từ sợi tơ (filament) nhân tạo có sản lượng cao nhất đạt 293,98 triệu m2, giảm 4,71%. Trong khi đó, riêng sản phẩm vải dệt thoi từ sợi bông có tỷ trọng bông từ 85% trở lên có sản lượng 5 tháng đạt 158,1 triệu m2, tăng 1,05%.

Sản xuất sợi, sản phẩm sợi tơ (filament) tổng hợp đạt sản lượng cao nhất (615,49 nghìn tấn), tăng 1,2% so với cùng kỳ năm trước. Tiếp đến là sợi xe từ các loại sợi tự nhiên: bông, đay, lanh, xơ dừa, cói... đạt 355,11 nghìn tấn, tăng 3,93%. Sản xuất sợi từ bông (staple) tổng hợp có tỷ trọng của loại bông này dưới 85% đạt hơn 80,61 nghìn tấn, giảm nhẹ 0,79%  (xem chi tiết Bảng 1).

Bảng: Sản lượng một số sản phẩm CNHT ngành dệt may tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2020

Tên sản phẩmĐVTT5/2020T5/2020 so T4/2020 (%)T5/2020 so T5/2019 (%)5 tháng 20205T/2020 so 5T/2019  (%)
Bao và túi dùng để đóng, gói hàng từ nguyên liệu dệt khác1000 cái40.2011,29-16,01189.698-18,93
Sợi xe từ các loại sợi tự nhiên: bông, đay, lanh, xơ dừa, cói ...Tấn73.0557,19-3,25355.1093,93
Sợi tơ (filament) tổng hợpTấn133.5016,611,33615.4861,20
Sợi từ bông (staple) tổng hợp có tỷ trọng của loại bông này dưới 85%Tấn16.13317,79-12,0580.614-0,79
Vải dệt thoi khác từ sợi bông1000 m28.15815,49-10,3240.616-5,40
Vải dệt thoi từ sợi bông có tỷ trọng bông từ 85% trở lên1000 m236.40416,63-2,55158.0991,05
Vải dệt thoi từ sợi tơ (filament) nhân tạo1000 m261.5013,49-9,20293.980-4,71
Vải dệt thoi từ sợi tơ (filament) tổng hợp1000 m222.2805,97-20,03119.965-24,98

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Ngày 8/6/2020 vừa qua, Quốc hội đã chính thức phê chuẩn Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA). Để khai thác tốt những lợi thế mà Hiệp định này mang lại, các DN trong ngành dệt may sẽ phải gấp rút cải tổ rất nhiều từ việc đáp ứng quy tắc xuất xứ cho tới nâng cao công nghệ sản xuất.

Theo Hiệp hội Dệt may thêu đan TP. Hồ Chí Minh, các DN dệt may đều mong chờ hiệp định EVFTA được thực thi, do EU là thị trường nhập khẩu hàng may mặc lớn thứ 2 của Việt Nam. Tuy nhiên, để tận dụng được những ưu đãi về thuế quan từ Hiệp định này, các DN cần đáp ứng được yêu cầu về quy tắc xuất xứ.

Hiện nay, chỉ có khoảng 30% DN đáp ứng được các yêu cầu về xuất xứ để hưởng ưu đãi. Đây là những DN sử dụng nguồn nguyên phụ liệu được sản xuất tại Việt Nam hoặc nhập khẩu từ những nước thuộc khu vực ASEAN, có ký kết các Hiệp định thương mại với EU, trong khi có tới 70% nguồn nguyên phụ liệu là nhập từ Trung Quốc là chưa đáp ứng được. Do đó, việc đáp ứng yêu cầu về quy tắc xuất xứ để hưởng ưu đãi là rất khó khăn. Bên cạnh đó, EU còn là thị trường rất khó tính, có yêu cầu cao về chất lượng, với các quy định nghiêm ngặt về lao động, môi trường… mà không phải DN Việt Nam nào cũng có thể đáp ứng được.

Để tận dụng được những ưu đãi về thuế quan từ Hiệp định này, DN cần phải chủ động kết nối với khách hàng mạnh hơn vì nhiều DN khi xuất hàng vào châu Âu thường phải qua một đơn vị thứ ba (có thể là nước khác hoặc thị trường châu Âu). Những DN này sẽ có sự am hiểu lớn về thị trường châu Âu, cũng như biết cách tận dụng những ưu đãi về xuất xứ. Khi DN Việt Nam kết nối tốt với khách hàng, việc mở rộng xuất khẩu sẽ thuận lợi hơn. Về lâu dài, nhà nước cần có những chính sách khuyến khích, ưu đãi cho các DN đầu tư phát triển nguyên phụ liệu, kêu gọi nhà đầu tư nước ngoài nhưng phải chọn lọc và ưu tiên những DN chỉ phát triển về nguồn nguyên phụ liệu.

Để giải quyết vấn đề về xuất xứ thì rõ ràng là phải có định hướng đầu tư. Tuy nhiên, để đầu tư vào vải và sợi đòi hỏi phải có nguồn vốn lớn, công nghệ hiện đại.Vì thế trong ngắn hạn, DN phải tập trung vào khâu thiết kế để tìm ra nguồn nguyên liệu nào phù hợp ở Việt Nam. Về dài hạn, phải có chính sách hỗ trợ về tài chính, đất đai, chính sách của nhà nước để các DN đầu tư vào nguồn nguyên phụ liệu, xây dựng được chuỗi cung ứng hoàn chỉnh.

Các DN phải đầu tư công nghệ cao, các dây chuyền sản xuất mới, hiện đại  để đáp ứng các yêu cầu sản xuất, nâng cao chất lượng nguồn lao động. Doanh nghiệp sẽ mất khoảng 3 năm để đầu tư xây dựng dây chuyền sản xuất mới, cùng việc phát triển nguồn nguyên phụ liệu, hoàn thiện chuỗi cung ứng dệt may để có thể hưởng lợi từ Hiệp định EVFTA.



Tác giả: TT
VĂN BẢN PHÁP LUẬT

ĐỐI TÁC